UBND tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành quy định áp dụng hệ số K, các hệ số K thành phần và số lần tạm ứng, tỷ lệ tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.

Quy định hệ số K trong chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ảnh minh họa (Ảnh: Nguyễn Phú)
Theo đó, hệ số K được xác định cho từng lô rừng và làm cơ sở tính toán mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ; điều tiết tiền dịch vụ môi trường rừng; xác định mức chi trả cho bên nhận khoán bảo vệ rừng từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, quy định số lần và tỷ lệ tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với bên cung ứng dịch vụ theo công thức K = K1 x K2 x K3 x K4.
Trong đó, K1 là hệ số điều chỉnh theo trữ lượng rừng; K2 điều chỉnh theo mục đích sử dụng rừng; K3 điều chỉnh theo nguồn gốc hình thành rừng; K4 điều chỉnh theo mức độ khó khăn của địa bàn cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Cụ thể, hệ số K1 được áp dụng ở mức 1,00 đối với rừng giàu; 0,95 đối với rừng trung bình và 0,90 đối với rừng nghèo, rừng nghèo kiệt, rừng chưa có trữ lượng, rừng tre nứa, rừng không phân chia trữ lượng và rừng trồng. Đối với hệ số K2, mức 1,00 áp dụng cho rừng đặc dụng, 0,95 đối với rừng phòng hộ và 0,90 đối với rừng sản xuất. Hệ số K3 có mức 1,00 đối với rừng tự nhiên và 0,90 đối với rừng trồng. Hệ số K4 được xác định theo khu vực xã nơi có diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Trong đó, xã khu vực III áp dụng hệ số 1,00; khu vực II áp dụng hệ số 0,95; khu vực I và các xã chưa được Thủ tướng Chính phủ quy định thuộc khu vực áp dụng hệ số 0,90.
Về tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng, căn cứ kế hoạch tài chính hằng năm được UBND tỉnh phê duyệt, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Khánh Hòa thực hiện tạm ứng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Số lần tạm ứng tối đa 3 lần/năm, vào các quý II, III và IV. Tổng số tiền tạm ứng không vượt quá 80% số tiền thực thu sau khi trích kinh phí quản lý của Quỹ và kinh phí dự phòng theo quy định.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị liên quan kiểm tra, giám sát việc thực hiện; chỉ đạo các cơ quan, tổ chức liên quan phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh xác định hệ số K của từng lô rừng khi có thay đổi về trữ lượng, mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành và mức độ khó khăn. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng xác định hệ số K; phối hợp xác định số tiền chi trả hằng năm bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng quy định. Đồng thời, Quỹ căn cứ số tiền thực thu để xác định thời gian, số tiền tạm ứng cho từng bên cung ứng và tổ chức chi tạm ứng theo quy định.
Nguyễn Phú