PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Rào cản nào khiến phụ nữ cam chịu bạo lực tình dục?

Mặc dù vấn đề bảo vệ phụ nữ đã được quy định trong luật pháp, nhưng hiện nay vẫn còn những khoảng trống trong việc bảo vệ phụ nữ là những nạn nhân của các hình thức bạo lực tình dục, khiến họ cam chịu loại hình bạo lực này.

Hiện nay, các hành vi bạo lực tình dục đối với phụ nữ rất đa dạng, bao gồm các loại bạo lực tình dục trong gia đình, ở nơi công cộng, nơi làm việc. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã có nhiều bài viết về những câu chuyện đau lòng liên quan đến bạo lực tình dục từ những vụ chồng hiếp dâm vợ, phụ nữ bị quấy rối tình dục nơi công sở đến việc những phụ nữ mại dâm bị bạo hành. Thậm chí đã có những vụ án mạng xảy ra khi phụ nữ bị bạo hành tình dục. Nhưng tại sao những phụ nữ này không đứng lên để thoát khỏi cảnh bị bạo hành tình dục?

 
Ảnh minh họa

Về vấn đề này, TS Phan Thị Lan Hương, Giảng viên Đại học Luật cho rằng, hiện nay khả năng tiếp cận công lý của phụ nữ bị bạo hành tình dục vẫn còn thấp. Điều này cũng do nhiều nguyên nhân.

Thứ nhất, khái niệm về bạo lực tình dục tương đối hẹp. Còn thiếu quy định của pháp luật về các hành vi bạo lực tình dục với phụ nữ trong Bộ luật Hình sự và các Nghị định quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực. Ví dụ như chưa có quy định về tội quấy rối tình dục; tấn công tình dục không được coi là một hành vi phạm tội riêng đối với nữ thanh niên từ 16 tuổi trở lên; không có tội đeo bám.

Các khái niệm về tội hiếp dâm và cưỡng dâm còn tương đối hẹp và cách hiểu không rõ ràng về hiếp dâm trong hôn nhân. Thiếu các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quấy rối tình dục nơi công cộng hay trên các phương tiện công cộng; (Bộ luật Lao động quy định cấm quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng không đưa ra định nghĩa cho các hành vi quấy rối (Điều 8)).

Thiếu quy định về xử phạt hành chính đối với người mua dâm không trả tiền hay lừa dối phụ nữ bán dâm để đạt được mục đích thỏa mãn về tình dục; hay lừa dối để phục vụ nhiều người… (Nghị định 167/2013/NĐ-CP chưa có quy định về hành vi này, Điều 22 và 24).

Thiếu quy định về xử phạt đối với hành vi bạo lực tình dục như: khẩu dâm (các lời nói thô tục); sử dụng các dụng cụ nguy hiểm để quan hệ tình dục không có sự đồng thuận của nạn nhân.

Thứ hai, các quy định về chứng cứ và sử dụng chứng cứ có thể gây khó khăn cho nạn nhân của bạo lực tình dục:

Điều 64, Khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự về chứng cứ chưa tính đến các yếu tố nhạy cảm về giới. Chẳng hạn như việc yêu cầu nạn nhân phải cung cấp các bằng chứng về sự kháng cự hay các chứng cứ chứng minh hành vi bạo lực tình dục như: các đoạn băng hình, ghi âm, hay có người làm chứng trong trường hợp bạo lực tình dục là rất khó phát hiện.

Thứ ba, hiện chưa có đủ các quy định xử phạt cụ thể các hành vi bạo lực tình dục trong gia đình; nơi công cộng; nơi làm việc.

Các biện pháp xử phạt không mang tính khả thi, đặc biệt trong trường hợp bạo lực tình dục trong gia đình (vợ-chồng), phạt tiền sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của cả vợ và chồng do đó nhiều nạn nhân lưỡng lự không muốn yêu cầu xử lý hành chính. Ngoài ra, mức tiền phạt chưa thực sự đủ mức răn đe đối với hành vi bạo lực tình dục.

Tiếp đến là các rào cản trình báo về vụ việc bạo lực tình dục. Trước hết là từ suy nghĩ, nhận thức của phụ nữ bị bạo lực tình dục vì nạn nhân thường có tâm lý sợ hãi sự chỉ trích, phân biệt đối xử, phân biệt đối xử cộng đồng, nên không muốn báo cáo về vụ việc bạo lực tình dục. Tính nhạy cảm của bạo lực tình dục đặc biệt bạo lực tình dục trong gia đình, nơi làm việc cũng hạn chế người bị bạo lực trình báo vụ việc (thường có tâm lý che dấu);

Phụ nữ bị bạo lực khó thu nhập chứng cứ để chứng minh cho hành vi bạo lực tình dục nên thường tìm đến các thiết chế phi nhà nước để tìm kiếm sự trợ giúp hơn là trình báo tại cơ quan có thẩm quyền (công an).

Cuối cùng, trình độ, kiến thức pháp luật thấp của phụ nữ bị bạo lực tình dục là trở ngại lớn nhất cho việc tiếp cận công lý.

Chị em thường không hiểu rõ thế nào là bạo lực tình dục. Bạo lực tình dục thường bị lờ đi và không được công nhận ở Việt Nam bởi vì tâm lý chung là tình dục là chủ đề nhạy cảm và thường không được tranh luận. Đối với một số phụ nữ một số hành vi bạo lực tình dục không được coi là hành vi vi phạm pháp luật: ví dụ, 80% nạn nhân không biết về quấy rối tình dục; rất nhiều phụ nữ đã không cho rằng hành vi bạo lực của chồng là không thể chấp nhận được;

 Có khoản trống lớn về nhận thức các quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền của phụ nữ và bình đẳng giới. Do quan niệm truyền thống về quyền đòi hỏi quan hệ tình dục của người chồng, hành vi cưỡng bức tình dục trong hôn nhân chưa bao giờ bị truy tố hình sự. Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân được xếp vào hành vi vi phạm hành chính trong Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình;

Đưa bạo lực ra ánh sáng

Theo TS Phan Thị Lan Hương, để đưa những vụ bạo lực tình dục ra ánh sáng, trước hết cần xây dựng khung pháp lý quy định toàn diện, đầy đủ về các hành vi bạo lực tình dục và phù hợp với các công ước quốc tế:

Bộ Luật Hình sự vừa được Quốc Hội thông qua nhưng vẫn chưa bổ sung các tội về bạo lực tình dục, do đó, cần có tiếp tục khuyến nghị bổ sung thêm các tội danh như: Tội bạo lực tình dục; Tội tấn công tình dục; Tội đeo bám.

Sửa đổi quy định về tội hiếp dâm và tôi cưỡng dâm để mở rộng khái niệm về phạm vi của các hành vi bị cấm; chuyển từ định nghĩa dựa vào dấu hiệu “vũ lực” sang định nghĩa dựa trên dấu hiệu “không có sự đồng ý của nạn nhân”, bổ sung quy định để làm rõ rằng tội hiếp dâm và cưỡng dâm cấu thành “không phụ thuộc vào bản chất của mối quan hệ” giữa người phạm tội và nạn nhân. Ví dụ: chồng cũng có thể phạm tội hiếp dâm đối với vợ.

Cần xem xét đưa các khái niệm về việc lạm dụng sự tin tưởng hoặc lợi dụng vị thế vào việc xác định sự thuận tình của các cô gái từ 16 đến dưới 18 tuổi được coi là có đủ năng lực pháp lý có thái độ thuận tình với hành vi tình dục.

Bổ sung các hành vi vi phạm hành chính về bạo lực tình dục đối với phụ nữ bán dâm, ví dụ như: Hành vi lừa dối phụ nữ bán dâm nhằm mục đích tình dục mà không trả tiền; Hành vi lừa dối phụ nữ bán dâm để bắt phục vụ nhiều người/ nhiều lần mà không theo như thỏa thuận ban đầu

Chính phủ, Bộ LĐTBXH cần đẩy mạnh mô hình trao quyền kinh tế đối với các nạn nhân của bạo lực tình dục để giúp họ tự chủ hơn trong đời sống, đặc biệt là các phụ nữ là nạn nhân của tội phạm bạo lực tình dục hay phụ nữ bán dâm, ví dụ thực hiện các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn, lập nghiệp

Cần phải huy động các nguồn lực cho việc xây dựng và duy trì hiệu quả các trung tâm trợ giúp mà có thể cung cấp các dịch vụ hỗ trợ trọn gói cho người bị bạo lực tình dục như chăm sóc sức khỏe, tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và đào tạo nghề.

Cần bảo đảm sự phối hợp giữa hệ thống tư pháp nhà nước và hệ thống tư pháp phi nhà nước trong việc phối hợp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, can thiệp cần thiết cho phụ nữ bị bạo lực tình dục; tạo điều kiện cho họ lựa chọn thiết chế tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;

Đẩy mạnh cơ chế chuyển tuyến giữa các cơ quan tư pháp với các tổ chức xã hội, các tổ chức trợ giúp nạn nhân (trung tâm y tế, trung tâm bảo trợ xã hội) về báo cáo vụ việc, hỗ trợ pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực tình dục.

Theo tiengchuong.vn

Các tin khác